Số người truy cập


Xã Quang Thành

             - Số điện thoại: 0263.607.681;

             - Gmail: vpxaquangthanh@gmail.com;

             - Danh sách các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy, HĐND,UBND, UBMTTQ:

Stt

Họ và tên

Chức vụ

1

Hoàng Văn An

Bí thư Đảng ủy- Chủ tịch HĐND

2

Chu Thị Bích

Phó Bí thư Đảng ủy

3

Nông Văn Tưởng

Phó Chủ tịch HĐND

4

Hoàng Quốc Chấn

Chủ Tịch UBND

5

Lãnh Văn Giang

Phó Chủ tịch UBND

6

Đặng Thị Lan

Chủ tịch MTTQ

          II. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

          1. Vị trí địa lý

Xã Quang Thành là xã vùng 3 của huyện Nguyên Bình với tổng diện tích tự nhiên: 5.911,16 ha.

Có toạ độ địa lý:

- Kinh độ đông: 105030¢10² -  105033¢38²

- Vĩ độ bắc:       22025¢00² - 22035¢5²

          vị trí tiếp giáp:

- Phía Bắc giáp thị trấn huyện Nguyên Bình, Tĩnh Túc và xã Thể Dục;

- Phía Tây giáp xã Thành Công;

- Phía Đông giáp xã Tam Kim;

- Phía Nam giáp xã Hưng Đạo;

2. Diện tích tự nhiên

Tổng DTTN theo địa giới hành chính của xã là 5.911,16 ha.

3. Đặc điểm địa hình, khí hậu

* Địa hình: Là xã ở vùng cao nên diện tích đồi núi chiếm 92,8% tổng diện tích tự nhiên. Phía Bắc được bao bọc bởi dãy núi cao, đỉnh cao nhất:1.888,8 m (so với mặt nước biển) và thấp dần về hướng Đông Nam, và địa hình thấp nhất tại xóm Nà Lủng với độ cao khoảng trên 300 m.

* Khí hậu: Khí hậu trên địa bàn xã Quang Thành diễn ra chủ yếu như sau:

+ Lượng mưa trung bình năm của xã là 1.736,9mm, năm cao nhất là 2043,7mm. Năm thấp nhất là 1.252,4mm. Lượng mưa lớn nhưng phân bố không đều vào các tháng trong năm. Mưa tập trung chủ yếu vào thời gian từ tháng 5 - tháng 9 . Còn lại là mùa khô kéo dài từ tháng 10 – tháng 4 năm sau.

+ Lượng bốc hơi bình quân năm  là 82%

+ Sương mù xuất hiện từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau thường xuất hiện vào buổi sáng sớm và chiều tối.

+ Hướng gió chủ đạo của vùng theo hướng Đông - Nam và Đông - Bắc, tốc độ gió trung bình 1,4 m/s, tốc độ gió mạnh nhất > 20m/s.

4. Dân số

Tổng dân số trong toàn xã là 1.739 người - 378 hộ.

Tổng số lao động là 1195 lao động, chiếm 70% dân số.

Chính quyền xã đã tạo công ăn việc làm cho lao động bằng cách tiếp tục phối kết hợp với ngân hàng Nông nghiệp và ngân hàng Chính sách xã hội tạo điều kiện cho các hội viên các chi hội và nhân dân vay vốn để phát triển sản xuất như: Các hội viên hội nông dân, hội viên hội phụ nữ, hội cự chiến binh, Đoàn thanh niên.

Xã Quang Thành gồm 3 dân tộc Tày, Nùng, Dao cùng sinh sống. Mỗi dân tộc giữ nét đặc trưng riêng trong đời sống văn hoá, hoà nhập làm phong phú đa dạng bản sắc văn hoá dân tộc với những truyền thống lịch sử, văn hoá nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng.

5. Văn hóa xã hội

* Giáo dục

Những kết quả đạt được: Sự nghiệp giáo dục được đẩy mạnh thông qua chất lượng dạy và học, chỉ đạo thực hiện chương trình phổ cập THCS, tiểu học và mầm non. Xây dựng kế hoạch mức trợ cấp tối thiểu cho học sinh tiểu học và hỗ trợ học sinh khó khăn, bồi dưỡng học sinh khá, giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém. Duy trì nề nếp sẵn có, giáo viên lên lớp đúng giờ, có đầy đủ giáo án trước khi lên lớp. Thực hiện tốt nội quy của của nhà trường.

          Cơ sở vật chất trường lớp thiếu thốn như: Chưa đủ phòng học một số phân trường tiểu học, mầm non phải học lớp ghép, đường xã đi lại khó khăn, trang thiết bị dạy và học chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra đối với công tác giảng dạy.

          * Y tế - Y tế: Chỉ đạo thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh cho nhân dân, thường xuyên trực trạm cấp phát thuốc cho nhân dân, sử dụng thuốc an toàn. Tổng số 05 y , bác sỹ (trong đó 1 nữ hộ sinh), 1 bác sỹ vừa đi đào tạo chuyên tu về công tác tại Trạm.

          - Dân số - KHHGĐ: Tuyên truyền vận động chị em phụ nữ độ tuổi sử dụng các biện pháp tránh thai, thực hiện tốt việc cam kết không sinh con thứ 3

          Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế chưa đáp ứng phục vụ bệnh nhân, các nhân viên y tế chủ yếu là y sỹ nên trình độ khám chữa bệnh cho nhân dân chưa đáp ứng. Công tác vận động tuyên truyền về chăm sóc sức khoẻ sinh sản cũng như thực hiện kế hoạch hoá gia đình chưa được đẩy mạnh rộng khắp.

* Văn hóa, văn nghệ, thể thao

Vẫn lưu giữ được nét văn hóa truyền thống của các dân tộc đặc biệt là dân tộc dao có truyền thống văn hoá phong phú và giàu bản sắc thể hiện trong các dịp: Tết cổ truyền, Trang phục, các nghề thủ công truyền thống như thêu thùa, chạm bạc.

II. Đánh giá tiềm năng của xã, thị trấn

  1. Thuận lợi

- Trong những năm gần đây nền kinh tế của xã tiếp tục duy trì và tăng trưởng, có sự chuyển biến mới về chất lượng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Sản xuất nông lâm nghiệp đã từng bước chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi góp phần tăng giá trị và hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích. Nhiều giống cây trồng, vật nuôi có thế mạnh và có giá trị cao đã được nhân dân mạnh dạn đưa vào sản xuất như trúc sào, mía, đậu tương.... Tỉ trọng ngành chăn nuôi ngày càng tăng trong cơ cấu ngành nông nghiệp. Độ che phủ rừng tăng khá.

- Thành phần đất đai có khả năng phù hợp với nhiều loại cây trồng, cho phép phát triển một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân 1 ha/hộ (diện tích đất trồng lúa nước bình quân 0,69 ha/hộ). Năng suất, chất lượng cây trồng, trong những năm qua có xu hướng tăng nhanh.

- Nguồn lao động dồi dào là nguồn lực lớn cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

2. Khó khăn

- Nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với quy mô nhỏ, tỷ trọng hàng hoá còn thấp, sức cạnh tranh kém, thị trường bó hẹp. Việc phát huy thế mạnh của các vùng trong xã còn hạn chế. Sản xuất nông nghiệp chuyển biến chưa mạnh, còn mang nặng tính tự cung tự cấp, năng suất các cây trồng chính như lúa, ngô, đậu tương còn thấp, sản phẩm nông - lâm nghiệp qua chế biến chưa nhiều. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn chậm, năng suất thấp. Chăn nuôi mới dừng lại ở chăn thả đại gia súc tự nhiên, chưa chú trọng phát triển sản xuất hàng hoá.

- Trình độ dân trí của đồng bào còn hạn chế nên việc triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật công nghệ mới vào sản xuất còn chậm. Sự phát triển của xã còn phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư, các chính sách ưu tiên ưu đãi của Nhà nước. Công tác xóa đói, giảm nghèo đã mang lại nhiều kết quả đáng mừng nhưng số hộ giàu, khá tăng chậm, số hộ trung bình cận nghèo lớn, nguy cơ tái nghèo còn cao; giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn còn hạn chế.

- Giao thông tuy đầy đủ nhưng chất lượng kém, đường thôn, xóm chủ yếu là đường đất nên gây nhiều khó khăn trong việc đi lại cũng như sản xuất, sinh hoạt của nhân dân, nhất là vào mùa mưa.

- Các cơ sở hạ tầng nông thôn thiếu chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

- Hệ thống giáo dục, y tế, văn hoá đã hình thành nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã.

- Hiệu quả sử dụng đất chưa cao, sử dụng đất chưa có quy hoạch.

- Sự phối hợp giữa các khối đoàn thể và các ban ngành chuyên môn chưa chặt chẽ gây nên sự chồng chéo, bất cập trong công tác quản lý.

- Khí hậu, thời tiết của xã tiềm ẩn nhiều hiện tượng bất lợi như mưa lớn dài ngày gây lũ quét, khô hạn vào mùa khô... gây ảnh hưởng xấu cho đời sống và sản xuất của nhân dân và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường chung của toàn xã.

Với những mặt thuận lợi và hạn chế như trên, trong tương lai nếu được sự quan tâm đúng mức, quy hoạch phân bổ đất đai, sắp xếp dân cư hợp lý, khoa học sẽ giảm bớt khó khăn, đồng thời phát huy được những nguồn lực, khai thác tiềm năng đất đai, lao động để góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội đi lên, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân.

Để phát huy được thế mạnh của xã về nông, lâm nghiệp, cần thiết phải dựa vào khả năng thâm canh tăng vụ, tăng năng suất, sản lượng cây trồng trên diện tích đất canh tác nông nghiệp, đồng thời mở thêm những hướng sản xuất mới trên cơ sở diện tích đất hiện có như phát triển chăn nuôi, trồng rừng sản xuất, cây ăn quả, mở rộng diện tích đất canh tác thông qua cải tạo, đưa diện tích đất chưa sử dụng có khả năng sản xuất nông nghiệp vào sử dụng.